Đại bàng bay (2011), Chu Á Văn

“Đại bàng bay” (2011), một bộ phim truyền hình khá cũ của Chu Á Văn, đóng trước thời điểm Cao Lương Đỏ (2014). Nếu làm thành 1 chuỗi: Cao Lương Đỏ, Đại Bàng bay, My Natasha, Năm tháng ở Pháp của chúng ta trong cùng một thời điểm, Chu Á Văn cũng phải có đề cử cho Ảnh Đế :(.

Đại Bàng bay (远去的飞鹰) lấy bối cảnh vào thời Kháng Nhật, kể về cuộc đời (khoảng 10 năm sau) của người anh hùng Cao Chí Hàng (Gao Zihang). Gao Zihang được xem là người dẫn đầu mở đường cho không quân Trung Quốc, một tướng lái máy bay chiến đấu xuất sắc và chết như một người anh hùng ở tuổi 30. Gao Zihang có 3 đời vợ, trong phim Đại Bàng bay bắt đầu từ thời điểm Gao có cơ hội gặp gỡ người vợ thứ 2 và sau đó là người vợ thứ 3.

Chu Á Văn thủ vai anh hùng Gao, diễn viên người Belarut đóng người vợ thứ 2 và Diêu Địch (nữ diễn viên sau này dính scandal ngoại tình với Văn Chương, chồng Mã Y Lợi) đóng vai người vợ thứ 3.

Chu Á Văn diễn xuất rất hay, dòng phim Dân quốc, chiến tranh với kịch bản tốt mới đúng là dòng phim điển hình của Chu Á Văn. Dù các bộ ngôn tình đô thị sau này như Vượt qua đại dương đến bên em, Hôn nhân bí mật, …giúp Chu Á Văn nổi tiếng với giới trẻ, nhưng xem lại các dòng phim chính kịch, diễn xuất thực lực của Chu Á Văn đúng là như cá gặp nước. Sau này còn có bộ Đại Minh Phong Hoa, có vẻ Chu Á Văn hợp cạ với các dòng phim thể hiện chút máu anh hùng ;))) hoặc thổ phỉ hay biến thái như Cao Lương Đỏ hay Tôi là nhân chứng sẽ hay hơn nhiều ❤ ❤

Phim Kháng Nhật nhưng lại rất lãng mạn, mình yêu sự thông minh, dũng cảm, ngoan cố, nồng nàn của Chu Á Văn trong phim này, anh diễn như không diễn, quá tự nhiên. Đến nỗi 2 cô vợ fall in love với anh luôn ^ ^. Chị Belarut nhận xét phụ nữ nào gặp nhân vật như anh ngoài đời chắc chắn phải yêu, Diêu Địch thì khen Chu Á Văn mặc quân phục, cỡi ngựa, lái xe, lái máy bay cuốn hút, khán giả nữ sẽ thích anh sau khi phim chiếu. Tiếc cho anh, Cao lương đỏ sau này quá nổi nên người ta chỉ nhớ một Dư Chiêm Ngao thổ phỉ kháng Nhật mà không nhớ trước đó đã có một Chu Á Văn vô cùng vô cùng cuốn hút, lịch lãm, đàn ông, lãng mạn, nồng nàn trong Đại Bàng Bay, My Natasha, Thời đại Hoàng Kim hay Những năm tháng ở Pháp của chúng ta :((((((

Cảnh chiến đấu soái khó tả, đã ngấm vào máu diễn của anh. Nhưng cách anh vào vai thủ lĩnh, người yêu, người chồng, người cha duyên dáng lắm. Sau này quả nhiên là ông chồng quốc dân ;)))). Gao gặp và yêu cô vợ thứ 2 là một người đẹp người Belarut, anh nhảy với cô, trò chuyện bằng tiếng Pháp, sau đó lân la 3 ba lần đến chỗ cô bán cửa hàng da, rồi manly mời cô đến quán nước, cứu cô khỏi trận đột kích, và chở luôn được người đẹp về nhà. Tình cảm của Gao rất nồng nàn với vợ, vừa xem vừa cảm thấy như 2 người yêu nhau chứ không phải 2 diễn viên. Tiếc là xem mà không hiểu tiếng Trung :(. Cảnh hôn, quấn quít tự nhiên, nhẹ nhàng. Sau này có đoạn 2 người đã cưới, Gao là tướng, hay xa nhà, vừa về nhà chào mẹ là bay lên nhà ôm hôn vợ luôn. Thời điểm Gao bị tai nạn trong lúc lái, có thể tàn phế, bế tắc đến mức muốn tự tử, Grecia ôm anh và khuyên, cuối cùng dẫn anh đến một bs phẫu thuật ngoại quốc và Gao sau này đã lái máy bay trở lại. Grecia (vợ Gao) vừa yêu, vừa hi sinh khi sau này chấp nhận rời xa Gao để 2 người li dỵ theo đúng luật Không quân lúc đó, tướng không được lấy người ngoại quốc.

“Tình yêu” thời chiến quá khác, làm vợ tướng không thể nào không yêu, vì người làm tướng quá cuốn hút, dũng cảm, nhưng yêu là chấp nhận làm góa phụ bất cứ lúc nào, nhất là tướng không quân. Gao quá may mắn khi gặp được cả 2 người vợ đều yêu, ngưỡng mộ và sẵn sàng ủng hộ anh chiến đấu. Ren (người vợ thứ 3) được Gao cứu hai lần khi lần đầu gặp, sau này chứng kiến cảnh anh lái máy bay chiến đấu trình diễn, rồi nhất là khi được anh mời về nhà, thấy anh ôm con, thay giày, khâu áo cho con… cô yêu Gao không điều kiện. Sau này quyết định bắt anh làm đám cưới ngay quân doanh trước ngày bắt đầu 1 cuộc chiến sinh tử. Mình chắc chắn không hiểu được nếu không xem phim! Một nhân vật Gao, làm tướng anh dũng, nổi loạn, làm trưởng quan oai phong, hài hước, làm người yêu lãng mạn, nồng nàn, làm cha dịu dàng, tình cảm không thể không yêu được, vừa yêu vừa chấp nhận hết. Cảnh Gao bất chợt hôn má Ren, sau khi rung động vì được cô chăm sóc, và con gái gọi cô là mama, phải tua lại mấy lần vì quá đẹp!

Phim rất hot thời điểm chưa chiếu và sau chiếu tập cuối, trước khi chiếu vì lộ các ảnh Chu Á Văn mặc quân phục, người ta gọi người đàn ông khó tính đã trở thành người cha dịu dàng =))). Hot đến độ sau khi chiếu trên đài Đông Bắc, Truyền hình Bắc Kinh còn phát lại phim, việc này khá hiếm khi Beijing TV chiếu lại các phim đã phát trước ở đài khác. Khán giả list ra ba điểm là người tình lý tưởng của Chu Á Văn trong phim: ngoại hình, tài năng và hiểu về tình yêu. Đã là tướng mặc quân phục thì không chê vào đâu được, Gao trong phim cũng vốn học ở Pháp, là tướng lái máy bay giỏi nhất, là tướng chỉ huy, và dù rất nghiêm, rất nóng nảy khi tập luyện, chiến đấu, nhưng với người yêu thì luôn nồng nàn. Cách yêu của Gao với hai người vợ cũng khác, anh quấn quít sâu đậm với Grecia, ngay cả trước khi hai người làm đám cưới, điều này hơi khác biệt ở văn hóa TQ thời điểm đó, còn đối với Ren, lúc đó Gao mới rồi xa Grecia 3 tháng, một mình chăm con, Gao rung động nhưng nhẹ nhàng, kín đáo không ngủ cùng Ren (chưa đến được vs nhau) dù mẹ và em trai đẩy vào phòng, nhưng quyết liệt tuyên bố rõ mối quan hệ với cô trong lễ sinh nhật, 2 lần tặng hoa, một người đàn ông biết yêu điển hình là đây =)))

Funfact:

  1. Search hình film trên Facebook sẽ chỉ ra hình nhân vật phụ La Tấn đóng haha. Không hề thấy mặt Chu Á Văn.
  2. Diêu Địch trong phim rất đẹp, đẹp cổ điển và dịu dàng hơn nhiều so với hình ảnh bây giờ.
  3. Sau phim này Chu Á Văn còn nên duyên vs người đẹp Nga phim My Natasha. Anh có duyên với người ngoại quốc ghê :). Đóng cũng rất hợp.

Đánh giá:

-Trong tất cả các nhân vật mà Zhu Yawen thể hiện, chỉ có anh hùng bay Gao Zihang là người thành công nhất. Bất kể từ nguyên mẫu nhân vật của chính Gao Zhihang, hình ảnh cá nhân đẹp trai và kỹ năng diễn xuất tuyệt vời của Zhu Yawen là sự kết hợp hoàn hảo.

-Sự hợp tác giữa Zhu Yawen và nữ diễn viên nước ngoài thực sự tuyệt vời. Diễn xuất rất tốt, anh ấy thực sự rất tốt! Sự tương tác khác nhau giữa hai người thật tự nhiên, trìu mến.

v2-22eaa7f87fc5f97e44835ef3c7d953a0_720w

-Này, thực sự rất đẹp trai!

-Lúc đầu, tôi thực sự nghĩ rằng Zhu Yawen đến từ vùng Đông Bắc. Phương ngữ Đông Bắc  rất tốt. Thực sự Chu Á Văn đến từ Giang Tô. Rất ngưỡng mộ

-Quân phục mặc lên thật đẹp trai. Nó không chỉ là đồng phục, thật đấy! Tôi sẽ dành sự tôn trọng vô hạn cho lực lượng không quân của thời đại đó. Cách đây một thời gian, có một đoạn nói rằng Quân đội có “Chiến dịch Mê Kông”, Hải quân có “Chiến dịch Biển Đỏ”, Không quân là gì, lúc đó mọi người đều chế giễu “Sky Hunt” của Li Chen, một số cư dân mạng cho rằng Không quân có “Câu chuyện lớp học nấu ăn” “, Ha ha ha ha ha ha ha. Trên thực tế, nếu bạn nghĩ về nó bây giờ, bạn có thể nói rằng Không quân có “Đại bàng bay”

Link xem phim YOUTUBE:

TENCENT:

https://v.qq.com/x/cover/t5zy1t8311xcjlx/a0026ca30ap.html

Link bài:

Plot phim: https://www.juqingba.cn/zjuqing/10077.html

https://www.mingyantong.com/article/23062

https://ent.qq.com/a/20111117/000234.htm#p=2

https://ent.qq.com/a/20111121/000189.htm#p=4

http://www.shcaoan.com/wy/Monroe/20473.html

Đi tìm những đóa sen không tàn

Từ những ngày đầu tiên công bố sản phẩm hoa sen khô vào năm 2015 đến nay, Ngô Chí Công đã trở thành cái tên quen thuộc trong giới khởi nghiệp không chỉ ở Đồng Tháp – quê hương anh. Sen là loài hoa đẹp, nhưng cũng nổi tiếng “đỏng đảnh” vì không dễ giữ hoa sen tươi quá vài ngày. Nhưng đối với đóa sen khô đã qua xử lý của Ngô Chí Công, hoa có thể giữ ngót gần chục năm. Thế là chúng tôi tìm đến Công để nghe anh kể chút chuyện về “cuộc chạy bền” với những đóa sen không tàn.

“TÔI ĐÃ BẮT ĐẦU Ở VẠCH XUẤT PHÁT KHÓ NHẤT”

Ngo Chí Công có thời gian học Thạc sĩ ngành Hóa ở Pháp trước khi về Việt Nam lập nghiệp. Ảnh: thùy Trang.
Ngô Chí Công có thời gian học Thạc sĩ ngành Hóa ở Pháp trước khi về Việt Nam lập nghiệp. Ảnh: thùy Trang.

Trở về nước với tấm bằng Thạc sĩ Hóa ở Pháp, khi nghe về ý muốn khởi nghiệp, mẹ Công mới gợi ý: “Làm gì mà chưa ai làm, và làm từ những thứ địa phương sẵn có và đang muốn phát huy”. Còn Công nghĩ: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, cứ theo thế mạnh của mình là nghiên cứu hóa học”. Và thế là anh bắt tay vào nghiên cứu công nghệ xử lý hoa khô với sen.

“Sen là loài hoa đỏng đảnh, và tôi đã bắt đầu với loài hoa khó chìu nhất”. Không giống hoa hồng hay hoa lan có cánh hoa cứng cáp, hoa sen không có đài hoa, cánh hoa mỏng, lại dễ rủ. Ban đầu, Công lên Đà Lạt dò tìm, học hỏi về cách làm hoa bất tử nhưng không thu thập được gì nhiều. Sau đó, anh trở về và tự mình nghiên cứu. Thực ra, công nghệ xử lý hoa khô cơ bản ở thế giới đã không còn lạ lẫm. Ở Việt Nam công nghệ này phổ biến dưới dạng sản phẩm quen thuộc là hoa bất tử của Đà Lạt. Từ công thức chung, tùy theo từng loại hoa, lá với tế bào, cấu trúc, đặc tính riêng, cùng nhu cầu sử dụng, công thức sẽ được nghiên cứu và điều chỉnh lại cho phù hợp.

Bắt đầu nghiên cứu từ năm 2014, sau khoảng 6 tháng, Công đã tìm ra công thức “ra lò” những đóa sen khô. Ngay trong tháng 8 năm 2015, những sản phẩm mỹ nghệ đầu tiên ra đời, là những đóa sen nguyên bản với sắc hồng gần như thật và độ mềm cánh tinh tế, không khác gì hoa thật. Thực ra, hoa sen qua quá trình xử lý công nghệ sẽ mất hết màu tự nhiên, màu thành phẩm là màu được nhuộm lại.

Giá trị gia tăng của sen khô mỹ nghệ bình thường đã gấp 10 lần 1 bông sen tươi. Ảnh: Thùy Trang.
Giá trị gia tăng của sen khô mỹ nghệ bình thường đã gấp 10 lần 1 bông sen tươi. Ảnh: Thùy Trang.

Từ những ngày đầu khởi nghiệp, Khởi Minh Thành Công đã gây được chú ý, bởi sản phẩm sen khô được đánh giá là độc, lạ, có giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật và cả giá trị văn hóa. Việt Nam có rất nhiều giá trị, sản vật độc đáo, đặc sản. Nhưng khi cần làm quà, giới thiệu cho bạn bè quốc tế, hay quà cho khách du lịch mua kỷ niệm, đặc biệt là hoa thì không có được các thương hiệu đặc sản như hoa Hồng Ecuador, hoa Tulip Hà Lan, hoa Anh Đào Nhật Bản…Sen được xem như quốc hoa, nhưng khó vươn ra thế giới vì thời gian bảo quản khó, lại chóng tàn. Điều này đã là trăn trở khi Công còn theo học tại Pháp.

Hiện nay, nhà máy của Khởi Minh Thành Công ở Đồng Tháp hoạt động xuyên suốt cả năm và cung ứng sản phẩm đều đặn cho thị trường. Công ty có 2,5 ha sen liên kết với người nông dân. Chị Nguyễn Lê Ngọc Quỳnh – Phó Giám đốc, cho hay, giá trị gia tăng của sen khô mỹ nghệ bình thường đã gấp 10 lần 1 bông sen tươi. Nếu ứng dụng trên sản phẩm thiết kế, mỹ thuật như tranh vẽ…thì giá trị còn cao hơn nhiều.

CẦN CHI PHẢI VỘI!

Sau gần 3 năm kinh doanh, Khởi Minh Thành Công chỉ mới hòa vốn, tức là có lãi thời gian gần đây. Nhưng mà, cần chi phải vội! Công nói về “cuộc chạy bền” gần 3 năm: “Hòa vốn hay không thực sự không quan trọng. Quan trọng là theo kế hoạch kinh doanh và định hướng ở mỗi giai đoạn, doanh nghiệp chấp nhận đầu tư gì?”.

 Các sản phẩm đại trà làm từ 100% sen như: sổ tay lá sen, túi xách lá sen...
Các sản phẩm đại trà làm từ 100% sen của Khởi Minh Thành Công như: sổ tay lá sen, túi xách lá sen…Ảnh: Thùy Trang. 

Từ khi thành lập đến nay, chính xác là đến tháng 6 năm nay, Khởi Minh Thành Công vẫn đang ở khoảng thời gian dò thị trường. Suốt 3 năm, nguồn vốn của công ty đổ dồn cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) sản phẩm. “R&D là bộ phận xài tiền cực kỳ nhiều, nhưng cũng là sự chuẩn bị cho tương lai” – Công nói. Những chu kỳ liên tiếp được lặp lại: từ nghiên cứu điều chỉnh công nghệ cho ra sản phẩm mới, đến thử nghiệm, rồi thăm dò thị trường nhằm đo lường khả năng thương mại hóa của sản phẩm.

Sản phẩm túi xách trang trí sen. Ảnh: Thùy Trang.
Sản phẩm túi xách trang trí sen. Ảnh: Thùy Trang.

Tính đến nay, công ty đã cho ra lò trên 60 sản phẩm từ sen khô, thuộc mặt hàng lưu niệm và sản phẩm mỹ thuật cao cấp. Các sản phẩm đại trà làm từ 100% sen như: hoa sen khô cắm trang trí, sổ tay lá sen, túi xách lá sen, các sản phẩm thuộc mảng thời trang sen theo phong cách cá tính dành cho khách du lịch. Riêng dòng sản phẩm cao cấp như tranh sen thiên về mảng trang trí nội thất, gồm tranh vẽ kết hợp với lá thật, tranh sen 3D… đặc biệt được chú trọng đầu tư, vì theo đuổi phân khúc sản phẩm mỹ thuật cao cấp đã nằm trong dự tính ban đầu của Công với mong muốn tạo dấu ấn cho thương hiệu sen khô Khởi Minh Thành Công. Tranh sen hiện là dòng sản phẩm đem lại lợi nhuận cao nhất trong số các sản phẩm sen.

Một trong 2 sản phẩm mới nhất của Khởi Minh Thành Công là tranh sen 3D tự lắp ráp. Ảnh: Thùy Trang.
Một trong 2 sản phẩm mới nhất của Khởi Minh Thành Công là tranh sen 3D tự lắp ráp.  Sản phẩm gồm một khung tranh sen, kèm các miếng ghép lá sen hoặc hoa sen có thể tháo rời. Người chơi tranh tự mình sắp xếp bố cục tranh sen theo ý muốn nhờ nam châm dưới miếng ghép. Ảnh: Thùy Trang.

Một trong 2 sản phẩm mới nhất của Khởi Minh Thành Công là tranh sen 3D tự lắp ráp, hiện đang bán thử, chưa chính thức giới thiệu ra thị trường. Sản phẩm gồm một khung tranh sen, kèm các miếng ghép lá sen hoặc hoa sen có thể tháo rời. Người chơi tranh tự mình sắp xếp bố cục tranh sen theo ý muốn nhờ nam châm dưới miếng ghép. Mỗi bộ tranh sen kích cỡ đại trà 30cmx30cm kèm 5 miếng ghép tháo rời có giá 1,5 triệu đồng. Theo Công, đây là mức giá khá rẻ để sở hữu bức tranh sen có tuổi thọ gần 10 năm và người chơi có thể thay đổi bố cục tranh theo ý muốn. Điểm mạnh của sản phẩm là dấu ấn cá nhân khi người chơi tự tạo cho mình một tác phẩm. Một tháng sau, bạn có thể đổi bố cục tranh, thậm chí mua thêm các phụ kiện đa dạng như hoa sen nguyên bản, hoa sen gấp, lá sen với màu khác nhau để tạo sự đổi mới cho bức tranh sen. Dự kiến sau khi tung ra thị trường, công ty sẽ triển khai chế độ hậu mãi cho các sản phẩm tranh sen với gói bảo hành vài năm hoặc bảo hành trọn đời, đặc biệt đối với các bức tranh có kích cỡ lớn được đặt riêng.

Một tác phẩm tranh sen của Khởi Minh Thành Công. Ảnh: Thùy Trang.
Một tác phẩm tranh sen của Khởi Minh Thành Công. Ảnh: Thùy Trang.

Tự nhận mình là start up “nhà nghèo”, Công đủ hiểu bệnh của doanh nghiệp, đặc biệt của doanh nghiệp vừa và nhỏ là vay vốn và tài sản thế chấp. “Đó là bài toán chung của doanh nghiệp khởi nghiệp, nên làm từ nhỏ đến lớn, rất khó nếu khởi nghiệp mà nghĩ một bước lên mây ngay, trừ khi bạn rất giàu” – anh chia sẻ. Trong năm 2017, bên cạnh tiếp tục đổ vốn vào R&D, Công đầu tư xây dựng thương hiệu. Anh đều đặn tham gia các chuyến khảo sát thị trường, hội chợ, triển lãm. Nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với khách hàng không chỉ đem đến cơ hội mà còn là những ý tưởng mới cho sản phẩm.

Gần đây nhất là duyên kỳ ngộ của Công và một nhà thiết kế áo dài có tiếng ở một hội chợ xúc tiến sản phẩm. Kết quả là sự ra đời của chất liệu vải sen đầy công phu, cầu kỳ. “Chất liệu sẽ sớm xuất hiện trên thiết kế độc đáo của tà áo dài truyền thống” – Công tiết lộ.

Từ đây đến cuối năm, bên cạnh tiếp tục đầu tư quảng bá thương hiệu, Khởi Minh Thành Công sẽ dần ổn định các dòng sản phẩm sen khô và bắt đầu đẩy mạnh kinh doanh. Bộ phận R&D đã tạm ổn, sắp tới là giai đoạn mở rộng thị trường, nhưng không có nghĩa việc nghiên cứu sẽ dừng lại, mà R&D sẽ vẫn tiếp tục được duy trì. Vì “luôn cải tiến, luôn thay đổi sẽ kích thích sức sáng tạo và duy trì sức sống của thương hiệu” – Công tâm đắc.

UYÊN LINH 

(Bài viết được đăng trên tạp chí Nông Thôn Việt, số ra ngày 5/6/2018  http://nongthonviet.com.vn/nong-san-viet/Sen/201806/di-tim-nhung-doa-sen-khong-tan-726725/)

Trải nghiệm nông thôn tiện nghi ở làng homestay Banghuris, Malaysia

Chuyến tham quan thực tế làng Banghuris thuộc huyện Sepang, bang Selangnor, Malaysia nằm trong chuỗi hoạt động của Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Phát triển Nông thôn và Xóa đói Giảm nghèo (AMRDPE) 2017.

Logo chương trình Homestay của Malaysia
Logo Chương trình Homestay của Malaysia

Cách thủ đô Kuala Lumpur 80km về phía Nam, mất khoảng 2 giờ ô tô để đến Banghuris. Đây là một trong số những mô hình làng du lịch homestay vùng nông thôn điển hình thuộc Chương trình Homestay (nhà nghỉ nằm trong nhà của người dân địa phương) của chính phủ Malaysia.

Ấn tượng với homestay Hồi giáo

Tên làng Banghuris bắt nguồn từ tên của 3 ngôi làng được hỗ trợ chương trình homestay. Đó là Kampung Bukit Bangkong, Hulu Chuchoh và Ulu Teris. Chương trình homestay ở Banghuris đã bắt đầu từ hơn 15 năm trước đây, tập trung vào ngành du lịch nông nghiệp.

Khu vực dành để du khách trải nghiệm nông nghiệp, được gọi là Agro Center.
Khu vực dành để du khách trải nghiệm nông nghiệp, được gọi là Agro Center. Ảnh: Uyên Linh

Làng Banghuris được bao bọc bởi những khu vườn cọ dầu, cao su và cây ăn quả, bên trong ngôi làng được quy hoạch hài hòa với vườn tược và kiến trúc nhà dân, giao thông thuận tiện. Khách du lịch đến đây sẽ trải nghiệm không gian sống và các hoạt động trong các nông trại nông thôn hoặc khu trải nghiệm văn hóa chung của ngôi làng, cũng là khu vực chính để tiếp các đoàn khách quốc tế đến với Banghuris.

Ca nhạc truyền thống chào đón đoàn quốc tế ghé thăm mô hình hometay làng Banghuris. Ảnh: Uyên Linh
Ca nhạc truyền thống chào đón đoàn quốc tế ghé thăm mô hình hometay làng Banghuris. Ảnh: Uyên Linh

Thế mạnh của Banghuris nói riêng và Malaysia nói chung là sự đa đạng văn hóa. Đó là nét hòa hợp và pha trộn độc đáo của văn hóa 3 nhóm người chính: Malaysia, người Hoa, người Ấn và đặc biệt là văn hóa tôn giáo của đạo Hồi – quốc giáo của đất nước này.

Nhà nông thôn ở làng Banghuris. Ảnh: Uyên Linh
Nhà nông thôn ở làng Banghuris. Ảnh: Uyên Linh

Bước vào bên trong những kiến trúc nhà lạ mắt nhưng vẫn hài hòa với cảnh quan thiên nhiên là một thế giới hoàn toàn khác khiến du khách trầm trồ ngạc nhiên. Đó là không gian riêng tư của mỗi gia đình mang phong cách bài trí đậm đặc văn hóa đạo Hồi: kín đáo, bí ẩn và cực kỳ đẹp đẽ.

Bên trong khu homestay của một gia đình Hồi giáo ở làng Banghuris. Ảnh: Uyên Linh
Bên trong khu homestay của một gia đình Hồi giáo ở làng Banghuris. Ảnh: Uyên Linh

Vẻ đẹp của những hoa văn trang trí trên những tấm thảm Ba Tư huyền thoại hiện diện khắp căn nhà từ bộ ghế ngồi phòng khách, đến rèm cửa, tấm trải bàn ăn và đặc biệt là thảm lót sàn nhà. Khách du lịch nếu đăng ký dịch vụ homestay ở làng, sẽ trải nghiệm những không gian này với phòng cho khách nằm ngay trong ngôi nhà, thưởng thức ẩm thực và ca múa truyền thống địa phương cùng chủ nhà.

Nông nghiệp trên cánh đồng và những doanh nghiệp địa phương

Bước ra ngoài những ngôi nhà homestay, du khách bắt đầu hành trình trải nghiệm nông nghiệp xung quanh khu vực ngôi làng. Bao quanh khu chung có nhà cộng đồng làng là diện tích nông trang dành riêng cho du khách trải nghiệm với các loại cây trồng bản địa như cà phê Rubusta, cọ dừa, cao su.

Giới thiệu về cây cà phê Rubusta cho du khách. Ảnh: Uyên Linh
Giới thiệu về cây cà phê Rubusta cho du khách. Ảnh: Uyên Linh

Khu vực này không phải là nơi canh tác trực tiếp của người dân mà chỉ dành để du khách trải nghiệm, được gọi là Agro Center. Các nhà mô phỏng cách thu hoạch, xử lý thô các nông sản như: nhà xử lý cà phê, cao su, thu hoạch cao su cũng được xây dựng. Du khách có thể tự tay thu hoạch mủ cao su, hái dừa và dùng thử các loại trái cây địa phương theo mùa.

Du khách tự tay thu hoạch mủ cao su tại Agro Center thuộc làng Banghuris. Ảnh: Uyên Linh
Du khách tự tay thu hoạch mủ cao su tại Agro Center thuộc làng Banghuris. Ảnh: Uyên Linh

Điểm thú vị trong hành trình nằm ở chuyến tham quan khu chế biến hoặc trưng bày của những doanh nghiệp địa phương, nơi sản xuất ra các sản phẩm được làm từ chính các nguyên liệu được canh tác ở làng Banghuris.

Trong khu chế biến sản phẩm mì vàng của một doanh nghiệp địa phương làng Banguris. Ảnh: Uyên Linh
Trong khu chế biến sản phẩm mì vàng của một doanh nghiệp địa phương làng Banguris. Ảnh: Uyên Linh

Đây được gọi là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), do người dân trong làng làm chủ, sản xuất các thực phẩm truyền thống địa phương như: mì vàng làm từ gạo (chế biến món mì hoành thánh truyền thống của người Hoa ở Malaysia), đậu nành (chế biến món đậu nành ướp phổ biến trong bữa ăn của người bản địa), các loại rau củ hạt sấy…

Du khách trải nghiệm ở nhà mô phỏng xử lý cà phê trong khu Agro Center của làng Banghuris. Ảnh: Uyên Linh
Du khách trải nghiệm ở nhà mô phỏng xử lý cà phê trong khu Agro Center của làng Banghuris. Ảnh: Uyên Linh

Chỉ cách sân bay KLIA nửa giờ ô tô, nếu không đăng ký dịch vụ thông qua các đại lý du lịch, du khách có thể đi taxi đến ngay Trung tâm dịch vụ homestay của làng, Banghuris homestay center. Với khoảng 80 Ringgit (~ 430.000 đồng), du khách trải nghiệm được 1 ngày với các sinh hoạt cùng gia chủ trong homestay kèm với tour du lịch nông nghiệp quanh làng.

Chương trình nhà nghỉ homestay được Bộ Du lịch Malaysia lần đầu triển khai vào năm 1995 tại Temeroh, Pahang nhằm quảng bá văn hóa kampung (tên gọi các ngôi làng truyền thống của Malaysia) và tăng cường sự tham gia của người dân nông thôn trong ngành du lịch và văn hóa dựa vào cộng đồng. Kể từ đó, các làng ở tiểu bang khác đã dần hình thành khái niệm lưu giữ khách du lịch trong các ngôi nhà homestay trong làng mình.

Du khách thưởng thức ẩm thực cùng gia đình địa phương. Ảnh nằm trong chiến dịch quảng bá Chương trình Homestay của Malaysia.
Du khách thưởng thức ẩm thực cùng gia đình địa phương. Ảnh nằm trong chiến dịch quảng bá Chương trình Homestay của Malaysia.

Ngày nay, ở mỗi bang của Malaysia đều có làng hoạt động dưới mô hình này. Các gia đình muốn trở thành homestay sẽ đăng ký, sau đó tự quản lý dịch vụ của mình, dưới sự hỗ trợ của địa phương và giám sát của chính quyền bang. Chính sách phát triển Chương trình homestay của Malaysia nhấn mạnh đến việc sử dụng nguồn lực có sẵn của ngôi làng, bảo tồn văn hóa, truyền thống và nghệ thuật của ngôi làng truyền thống. Với mỗi bang và địa phương, các hoạt động trải nghiệm cho du khách cũng khác nhau, phụ thuộc vào đặc thù của ngôi làng.

 Ảnh nằm trong chiến dịch quảng bá Chương trình Homestay của Malaysia.
Ảnh nằm trong chiến dịch quảng bá Chương trình Homestay của Malaysia.

Tính đến cuối năm 2016, đã có tổng cộng 3.800 nhà nghỉ homestay tham gia chương trình, cung cấp 5.354 phòng. Trong 8 tháng đầu năm 2016, thu nhập cao nhất của chương trình homestay thuộc về bang Pahang (bang lớn thứ 3 ở Malaysia, diện tích 35.840 km²) với doanh thu 7.3 triệu ringgit (~40 tỷ đồng), thu hút 87.580 khách du lịch.

Uyên Linh

(Bài viết được đăng trên tạp chí Nông Thôn Việt, số ra ngày 5/11/2017  http://nongthonviet.com.vn/kham-pha/nhin-ra-the-gioi/201711/trai-nghiem-nong-thon-tien-nghi-o-lang-homestay-banghuris-malaysia-713954/)

Tìm về bản sắc gạo Việt

Trên kệ hàng Tết cuối năm vừa xuất hiện dòng gạo cao cấp mới là gạo hữu cơ Orgagro của công ty Gạo Việt. Với gạo Ngọc An, Phú Quý, lứt Lài Tím, lứt Thảo Dược… giá từ 60.000 – 140.000 đồng/kg, các loại gạo này không chỉ chú trọng về hương vị mà còn là những bài thuốc dinh dưỡng bổ sung vào bữa cơm hàng ngày.

Xuất hiện trong thực đơn mỗi ngày, đã có nhiều lời đổn thổi, quảng cáo gạo có thể chữa bệnh ung thư, tiểu đường. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, gạo khó lòng thay thế thuốc chữa bệnh. Bù lại, bằng cách sử dụng các loại gạo có hàm lượng dinh dưỡng phù hợp có thể cung cấp dưỡng chất, giúp phòng chống bệnh hoặc bổ trợ quá trình chữa bệnh. Đây cũng là nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong những năm gần đây.

Thương hiệu gạo hữu cơ Orgagro với các dòng gạo trắng và gạo lứt truyền thống.
Thương hiệu gạo hữu cơ Orgagro với các dòng gạo trắng và gạo lứt truyền thống.

Nhiều doanh nghiệp gạo vì thế đã gia nhập thị trường ngách tiềm năng này. Trong khi một vài doanh nghiệp tìm kiếm cách làm gạo hoàn toàn mới như gạo mầm, các doanh nghiệp khác lại đi sâu vào nghiên cứu và làm mới trên các dòng gạo Việt, một trong số đó là thương hiệu gạo hữu cơ Orgagro với các dòng gạo trắng và gạo lứt truyền thống.

Gạo bổ dưỡng trước hết là gạo an toàn

Gạo trắng dùng thường ngày chứa nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể, đồng thời giúp kiểm soát huyết áp nhờ hàm lượng nitrat thấp và giảm cholesterol do không chứa chất béo gây hại. Tuy nhiên, loại gạo được người tiêu dùng quen mặt về độ dinh dưỡng và công dụng bổ trợ chữa bệnh là gạo lứt. Vì sao gạo lứt tốt hơn gạo trắng?

Gạo lứt rất tốt cho bệnh nhân đái tháo đường và chất xơ trong gạo lứt có tác dụng chống táo bón, nhuận tràng, giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn.
Gạo lứt rất tốt cho bệnh nhân đái tháo đường và chất xơ trong gạo lứt có tác dụng chống táo bón, nhuận tràng, giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn.

Chuyên gia dinh dưỡng cho hay: bản chất gạo lứt là loại không đánh bóng. Trong quá trình xay xát, lớp vỏ lụa được giữ lại nên gạo lứt chứa rất nhiều vitamin nhóm B (B1, B3, B6), vitamin E, magie, mangan, sắt và chất xơ. Trong đó, vitamin B1 và chất xơ có hàm lượng cao hơn rất nhiều trong gạo trắng thông thường.

Nhờ vậy, gạo lứt rất tốt cho bệnh nhân đái tháo đường. Chất xơ trong gạo lứt có tác dụng chống táo bón, nhuận tràng, giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn. Với người bị đái tháo đường, lúc này chất xơ giống như một tấm lưới lọc lượng đường có trong thức ăn, cản trở và giúp họ kiểm soát đường huyết tốt hơn, đặc biệt sau khi ăn.

Tuy nhiên, giữa rất nhiều sản phẩm gạo trắng, gạo lứt có chức năng bổ trợ sức khỏe với nhiều thương hiệu và mức giá chênh lệch nhau, các chuyên gia khuyên người tiêu dùng nên chú tâm nhiều hơn đến các tiêu chuẩn và chứng nhận chất lượng chất lượng, vì hàm lượng chất dinh dưỡng trong hạt gạo còn phụ thuộc vào quy trình canh tác và tồn dư chất hóa học trong sản phẩm.

Ông Nguyễn Sơn Tiên, Tổng Giám đốc Công ty Gạo Việt, người đã có 6 năm gắn bó với cánh đồng lúa hữu cơ Orgagro ở Long An cho biết: “Để hàm lượng chất dinh dưỡng chiếm trọn trong hạt gạo thì đòi hỏi quy trình canh tác tốt. Trồng giống lúa tốt nhưng chăm bón sử dụng nhiều phân hóa học, thuốc trừ sâu thì hạt gạo làm ra sẽ bị giảm hàm lượng dinh dưỡng, thậm chí còn tích tụ độc hại. Hạt gạo bổ dưỡng, trước hết là hạt gạo an toàn cho sức khỏe.”

Gạo Việt vừa chính thức trở thành 1 trong 67 công ty ở Việt Nam được chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ USDA của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ.
Gạo Việt vừa chính thức trở thành 1 trong 67 công ty ở Việt Nam được chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ USDA của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ.

Cũng vì tâm huyết này mà trong suốt 6 năm, vùng lúa nguyên liệu của Gạo Việt đã ròng rã thực hiện canh tác lúa hoàn toàn theo phương thức hữu cơ, không sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu trên cánh đồng. Đến tháng 10 vừa qua, Gạo Việt vừa chính thức trở thành 1 trong 67 công ty ở Việt Nam được chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ USDA của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cho các mặt hàng nông nghiệp. Đây là một trong những chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn hữu cơ nghiêm ngặt nhất. Chỉ những sản phẩm chứa từ 95%-100% nguyên liệu hữu cơ mới được gắn dấu logo của USDA trên tem nhãn sản phẩm.

Được biết, chi phí đắt đỏ chưa kể phí tái kiểm định và gia hạn các chứng chỉ canh tác hữu cơ quốc tế mới chỉ là một trong số những rào cản đối với các đơn vị làm nông nghiệp hữu cơ vừa và nhỏ. Việc đầu tư cho một chứng chỉ hữu cơ quốc tế còn tốn nhiều tâm sức.

Sau 6 năm nghiêm ngặt thực hiện cải tạo đất, kiểm định nguồn nước để canh tác lúa hữu cơ ở Long An, Gạo Việt đã gửi hơn 5 mẫu gạo đi kiểm định và đánh giá độc lập tại Mỹ. Cuối cùng, Gạo Việt được USDA cấp mã số Organic (hữu cơ) quốc tế ở cấp độ toàn phần sau khi hoàn tất toàn bộ 100% chỉ tiêu đánh giá của chứng nhận này (545 chỉ tiêu) dưới sự giám sát trực tiếp tại chỗ từ các chuyên gia của tổ chức Control Union.

Tự hào khi Gạo Việt đạt chuẩn hữu cơ USDA cho cả sản phẩm và vùng lúa nguyên liệu, ông Nguyễn Sơn Tiên chia sẻ: “Chứng chỉ Organic là một quá trình làm việc bằng cả tâm huyết, sự đam mê và tuân thủ rất nghiêm ngặt với quan điểm vì sức khoẻ, vì môi trường. Bạn sẽ không thể có được nó nếu để quan điểm vì lợi nhuận chi phối”.

Tìm về bản sắc gạo Việt

Logo USDA hiện được gắn trên các sản phẩm gạo Orgagro, với giá bán khá cao cấp từ 60.000 đồng/kg với các loại gạo trắng đến 140.000 đồng/kg cho gạo lứt Thảo Dược, gạo Orgagro vẫn hút khách hàng nội địa bên cạnh thị trường xuất khẩu.

Có thể nhận ra những loại gạo rất thuần Việt trên bao bì cao cấp của Orgagro như: gạo lứt Thảo Dược từ giống lúa Thảo Dược có nguồn gốc từ Ninh Bình, gạo lứt Lài Tím từ giống lúa Lài Tím của Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp phát triển Đồng Tháp Mười, gạo Phú Quý từ giống lúa cùng tên có nguồn gốc ở Sóc Trăng.

Nói về niềm đam mê với hạt gạo quê nhà, ông Nguyễn Sơn Tiên tâm đắc: “Hạt gạo Việt bản thân đã là những hạt ngọc, theo đuổi canh tác hữu cơ, thực ra là đem hạt gạo quay về với bản sắc vốn có như cha ông mình đã làm: để hạt gạo phát triển đơn thuần, không độc hại, không chất bảo quản…”

Các dòng gạo Orgagro được chú trọng phù hợp với các nhu cầu sử dụng đa dạng. Gạo cao cấp nhất là gạo lứt Thảo Dược với màu nâu vàng đặc trưng, chuyên dùng để phòng ngừa bệnh tiểu đường, béo phì, tăng huyết áp, giải độc cơ thể.

Gạo lứt Lài Tím lại có tính thanh nhiệt, an thần, có khả năng ngăn xuất huyết dạ dày và đại tràng nên có tác dụng tốt trong bổ trợ điều trị các bệnh đường ruột. Trong khi đó, gạo Phú Quý là dòng gạo trắng hữu cơ cao cấp, giàu vitamin B1 và khoáng chất, phù hợp với người thường xuyên luyện tập, phụ nữ mãn kinh, người bị loãng xương, viêm khớp.

Chia sẻ về những dự định sắp đến, ông Nguyễn Sơn Tiên cho biết: “Sau vùng nguyên liệu là những cánh đồng lúa hữu cơ ở Long An, cùng với nhà máy sản xuất, để hoàn thiện chuỗi quy trình sản xuất lúa hữu cơ, Gạo Việt sẽ chú trọng đầu tư sản xuất phân bón hữu cơ. Cụ thể, Gạo Việt đang trong quá trình chuẩn bị xây dựng nhà máy sản xuất lúa hữu cơ và phân bón vi sinh tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Tổng vốn đầu tư dự án gần 150 tỷ đồng, dự kiến khởi công xây dựng trong năm 2018”

 

Uyên Linh

http://nongthonviet.com.vn/nong-san-viet/gao-viet/201712/tim-ve-ban-sac-gao-viet-715639/

Muốn nâng cao giá trị nông sản, thực phẩm cần chú trọng đến chuỗi cung ứng lạnh

Sáng ngày 7/3, tại TP.HCM, hơn 100 chuyên gia đã tham dự Hội nghị cung ứng lạnh toàn cầu diễn ra tại TPHCM do Carrier tổ chức nhằm tìm giải pháp bền vững trong quản trị cung ứng lạnh để giảm thất thoát, lãng phí nông sản, thực phẩm.

Hội nghị cung ứng lạnh toàn cầu diễn ra tại TPHCM do Carrier tổ chức
Hội nghị cung ứng lạnh toàn cầu diễn ra tại TPHCM do Carrier tổ chức

Chuỗi cung ứng lạnh (cold chain) là một khái niệm khá phổ biến ở các nước có nền nông nghiệp phát triển, được hiểu là các chuỗi cung ứng có khả năng kiểm soát và duy trì nhiệt độ thích hợp với các loại hàng hóa có yêu cầu bảo quản lạnh khác nhau, nhằm bảo đảm và kéo dài tuổi thọ của các mặt hàng nhạy cảm với nhiệt độ cao như sản phẩm nông nghiệp, thủy hải sản, hàng đông lạnh chế biến, hoa tươi cắt cành, các sản phẩm dược phẩm đặc biệt là vacxin. Chuỗi cung ứng lạnh bao gồm hai hệ thống logistics cơ bản là kho lạnh và hệ thống vận tải lạnh.

Chỉ 6 – 7% hàng rau củ quả được áp dụng kho lạnh và xe lạnh

Chuỗi cung ứng lạnh là nền tảng quan trọng của nền nông nghiệp, hỗ trợ đảm bảo chất lượng nông sản thực phẩm xuyên suốt các khâu từ nông trại đến bàn ăn. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên giá nông nghiệp lẫn doanh nghiệp trong nước, chuỗi cung ứng lạnh dành cho nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là ngành hàng rau củ quả và thịt vẫn còn rất yếu.

Theo một báo cáo 2011 của Tổng Cục Môi Trường Việt Nam, chuỗi thực phẩm tại Việt Nam dự kiến thất thoát khoảng 5.75 triệu tấn thực phẩm mỗi năm. Thị trường logistic cung ứng lạnh-mát tại Việt Nam khá phân mảnh, chủ yếu là các nhà cung cấp dịch vụ vừa-nhỏ phục vụ rời rạc cho một số điểm hay khu vực, và chưa thể cung cấp trọn gói cho toàn chuỗi thực phẩm.

Hiện tượng “gãy, đứt đoạn” trong cung ứng lạnh-mát tại Việt Nam là khá phổ biến trong ngành bán lẻ, thực phẩm, đặc biệt là trên kênh thương mại truyền thống chiếm 86% giá trị đóng góp cho bán lẻ tại Việt Nam như chợ, cửa hàng tạp hóa, chuỗi quán ăn – nhà hàng, hệ thống phân phối. Trong vòng 10 năm qua, năng lực phục vụ trong cung ứng lạnh – mát tại Việt Nam tăng 4 lần và các cơ sở hạ tầng trong cung ứng lạnh – mát thường hoạt động với công suất đạt trên 90%.

Theo TS Đào Thế Anh, Phó Giám đốc Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam cho biết, trong số các ngành hàng nông sản, duy nhất chỉ có thủy sản là lĩnh vực đang tiệm cận gần nhất với sự phát triển của chuỗi cung ứng lạnh của thế giới. Theo số liệu từ ABA Cooltrans, một doanh nghiệp Việt hoạt động lâu năm trong chuỗi cung ứng lạnh, tỷ lệ áp dụng logistic lạnh đối với thủy hải sản là khoảng 95%. Lý do là ngành thủy sản chủ yếu phục vụ xuất nhập khẩu nên đầu tư cho chuỗi cung ứng lạnh là yêu cầu bắt buộc từ thị trường thế giới. Riêng đối với ngành rau củ quả, tỷ lệ này thấp nhất, vào khoảng 6 – 7% lượng hàng được áp dụng bảo quản lạnh và vận chuyển lạnh từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ.

Kích cầu chuỗi cung ứng lạnh từ hệ thống cửa hàng tiện lợi

Theo ông Lương Quang Thi, Tổng Giám đốc Aba Cooltrans, 3 thách thức lớn trong phát triển chuỗi cung ứng lạnh ở Việt Nam là: áp lực chi phí, quy mô thị trường nhỏ lẻ và tư duy của người tiêu dùng lẫn nhà sản xuất. Theo đó, thách thức thứ 3 cũng đang là thách thức lớn nhất đối với ngành cung ứng lạnh. “Bởi vì chưa thấy được tầm quan trọng thực sự của việc bảo quản lạnh trong kho, trong xe vận chuyển nên chi phí mới trở thành thước đo, từ đó gây áp lực cho các nhà cung ứng logistic lạnh phải cắt bỏ một số mắc xích trong chuỗi cung ứng lạnh. Điều này làm giảm chất lượng của sản phẩm, vì chỉ cần giảm chất lượng 1 số khâu, sản phẩm đã không đảm bảo đúng độ tươi hoàn hảo. Và độ tươi là đặc điểm không thể đánh giá bằng mắt thường”, ông Thi cho biết.

Thị trường chuỗi cung ứng lạnh ở Việt Nam tuy không mạnh, nhưng hiện đang tăng trưởng nhanh chóng. Theo ông Thi phân tích: lý do cốt yếu là sự xuất hiện của chuỗi các cửa hàng bán lẻ tiện lợi. Chỉ sau khi xuất hiện trên thị trường từ năm 2014, số lượng cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam cho đến nay đã tăng thần tốc gấp 4 lần, từ con số 921 lên 3354 cửa hàng. Và kéo theo đó là tư duy “bảo quản lạnh từ lúc bắt đầu sinh ra cho đến khi trao tay người tiêu dùng” của sản phẩm được phổ biến hơn tại thị trường Việt Nam.

Cũng theo ông Thi chia sẻ, để thực sự nâng tầm chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam, từ khóa quan trọng nhất là “hợp tác”. Bằng cách hợp tác giữa các mắc xích trong chuỗi cung ứng lạnh, hiệu quả của chuỗi sẽ tăng mà không làm đội giá chi phí qúa cao.

Hội nghị Cung Ứng Lạnh Toàn Cầu 2018 tại được tổ chức tại TPHCM trong 02 ngày liên tiếp từ ngày 07-08/03/2018. Chủ đề chính của hội nghị hướng đến các giải pháp giảm lãng phí nông sản, thực phẩm trên chuỗi thông qua việc kiểm soát, quản trị chuỗi cung ứng lạnh – mát hiệu quả hơn. Đây là một trong những chương trình hành động toàn cầu vì cộng đồng của Carrier trong những năm gần đây trong việc tăng cường hợp tác giữa các khối kinh tế liên quan cung ứng lạnh-mát cùng chung tay giảm lãng phí thực phẩm, từ đó cũng đóng góp giảm khí thải nhà kính. Tính từ 2014, đây là lần thứ 4 Hội nghị Cung Ứng Lạnh Toàn Cầu do Carrier tổ chức.

Trong 02 ngày diễn ra Hội nghị Cung Ứng Lạnh Toàn Cầu 2018, đại diện các nhân tố trên chuỗi cung ứng thực phẩm, từ các học giả, các nhà khoa học đến cơ quan nhà nước liên quan, doanh nghiệp kinh tế, cùng nhau phân tích nguyên nhân cốt lõi dẫn đến lãng phí thực phẩm tại Việt Nam, cùng nhau tìm ra và đánh giá các cơ hội và giải pháp quản tri cung ứng lạnh-mát để khắc phục việc thất thoát nông sản, lập và phân chia công việc trong kế hoạch hành động để cùng nhau giảm lượng thất thoát hiện tại. Các giải pháp khắc phục tìm ra tại Hội nghị lần này còn đóng vai trò là giải pháp mẫu, điển cứu để nhân rộng cho các nước khác tại Đông Nam Á cùng học tập và thực hiện. Mục tiêu của Hội nghị và chương trình là chung tay giảm lãng phí, thất thoát thực phẩm hoàn toàn nhất quán với mục tiêu “2020 phải giảm được 10% thất thoát – lãng phí thực phẩm” của cộng đồng kinh tế APEC đã được vạch ra và cam kết từ Hội nghị APEC 2013 tại Bali và vừa rồi cũng được nhắc lại trong Phiên làm việc về giảm lãng phí và thất thoát nông sản do APEC tổ chức vào 2017 tại Cần Thơ. Đồng thời, mục tiêu chương trình hội nghị cũng nhất quán với mục tiêu phát triển bền vững 2030 của Liên Hiệp Quốc trong giảm lãng phí, thất thoát thực phẩm.

Uyên Linh

http://nongthonviet.com.vn/thoi-su/kinh-te/201803/muon-nang-cao-gia-tri-nong-san-thuc-pham-can-chu-trong-den-chuoi-cung-ung-lanh-721188/

HTX nông nghiệp: Lại co mình vì vốn!

Thúc đẩy HTX tích lũy vốn, mở rộng các chính sách tín dụng cũng như nhiều đề xuất nhằm tạo điều kiện cho hoạt động của HTX nông nghiệp tiếp tục được trao đổi tại Hội thảo về Định hướng xây dựng liên kết chuỗi giá trị nông sản – vai trò của hợp tác xã nông nghiệp trong xây dựng chuỗi giá trị nông sản do Bộ NN&PTNT tổ chức tại TP Biên Hòa, Đồng Nai ngày 4.5 vừa qua.

Đầu tư phải “co mình” vì vốn

Để tham gia hiệu quả và khép kín chuỗi giá trị, nhiều HTX nông nghiệp đang đứng trước bài toán lớn về vốn vì nhiều nhu cầu đầu tư, từ đầu tư vào tài sản máy móc thiết bị, đến nhà xưởng, kho chứa và cơ chế thu mua đầu vào…Theo TS.Hoàng Vũ Quang, Phó Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông thôn, trung bình để đầu tư 1 trạm thu gom sữa có công suất khoảng 10 tấn/ngày cần khoảng đầu tư đến 4 tỷ đồng.

Một trạm thu mua sữa tươi của HTX Tân Thông Hội (Ảnh: CCPTNT TPHCM)
Một trạm thu mua sữa tươi của HTX Tân Thông Hội (Ảnh: CCPTNT TPHCM)

Thực tế, nhà máy chế biến của HTX Tân Thông Hội (Củ Chi, TPHCM) có công suất chế biến 100 tấn sữa tươi/ngày cần đầu tư đến 60 tỷ đồng; nhà máy chế biến sữa của HTX Evergrowth Sóc Trăng tham gia có công suất chế biến 40 tấn sữa/ngày cần đầu tư 71 tỷ đồng (bao gồm cả tiền thuê đất).

TS.Hoàng Vũ Quang phân tích: Để tham gia liên kết, HTX cần có đầu tư cơ sở hạ tầng và vốn để phục vụ thu mua, thương mại sản phẩm. Tuy nhiên, phần lớn các HTX nông nghiệp đều có vốn và tài sản thấp, theo Báo cáo Nghiên cứu vai trò của HTX tham gia chuỗi giá trị nông sản của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông thôn.

Đó là chưa kể đối với các HTX mới thành lập, chưa tiêu thụ được nhiều sản phẩm cho thành viên, chưa có nhiều lợi ích mang lại cho thành viên nên các nông hộ còn e dè, chưa nhiệt tình tham gia góp vốn.

Theo đánh giá chung, vai trò của HTX trong các chuỗi giá trị nông sản như thanh long ở Bình Thuận, bưởi Da Xanh ở Bến Tre, nho ở Ninh Thuận thì sự tham gia của HTX là rất mờ nhạt.

Theo Báo cáo Nghiên cứu vai trò của HTX tham gia chuỗi giá trị nông sản của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông thôn, chỉ có 1,84% tổng sản lượng thanh long của tỉnh Bình Thuận được tiêu thụ qua HTX, hơn 91% thanh long được tiêu thụ qua các cơ sở thu gom.

Với chuỗi giá trị bưởi da xanh Bến Tre, với 7 HTX chuyên về bưởi da xanh, chỉ 2% sản lượng bưởi hộ nông dân được bán cho HTX hoặc Tổ hợp tác.

Tiếp cận đất và tín dụng 

Để giải quyết khó khăn về vốn của các HTX, các đề xuất về chính sách tiếp cận đất và vốn được đưa ra.

Cụ thể, đề xuất miễn tiền thuê đất trong thời hạn 5 năm và miễn 50% tiền thuê đất cho những năm sau đó trong cả giai đoạn thuê khi HTX thuê đất làm mặt bằng trạm thu mua, kho bảo quản, xưởng sơ chế, chế biến nông sản.

Trong trường hợp không còn quỹ đất để giao, cho thuê, nhà nước có thể hỗ trợ tiền mặt. Mức hỗ trợ tối đa là 50% trong thời hạn 10 năm và giao cho tỉnh quy định mức hỗ trợ cụ thể tùy nguồn lực của tỉnh.

Về hỗ trợ tín dụng, hiện nay, chính sách cho phép Ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng không tài sản thế chấp đến 1 tỷ đồng trong sản xuất kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp và 2 tỷ trong trường hợp nuôi trồng thủy sản và đánh bắt xa bờ; được vay đến 70% giá trị dự án của mô hình liên kết cho tổ chức cung cấp, tiêu thụ sản phẩm.

Tuy nhiên, trong thực tế, rất ít HTX được vay vốn.

Vì thế, các đề xuất đưa ra phương án nâng mức trần cho vay không cần tài sản thế chấp với HTX theo công thức 1:2. Nghĩa là với vốn tự có 1 đồng, có thể vay không cần tài sản thế chấp 2 đồng. Theo đó, sẽ thúc đẩy các HTX tự mình tích lũy vốn để tiếp cận tín dụng

Ngoài ra, cơ chế đồng bảo lãnh và đồng chịu ủi ro trong cho vay dự án liên kết chuỗi giá trị cũng được đưa ra. Theo đó, Doanh nghiệp liên kết và quỹ hỗ trợ phát triển HTX đồng bảo lãnh tín dụng cho HTX vay vốn.

Cơ chế này đảm bảo cả Ngân hàng thương mại, doanh nghiệp và Quỹ hỗ trợ HTX cùng đánh giá tính khả thi, hiệu quả dự án của HTX. Nhờ đó, giảm tính rủi ro của dự án.

Ngày 4.5 tại TP Biên Hòa, Đồng Nai, Bộ NN&PTNT phối hợp với UBND tỉnh Đồng Nai tổ chức Hội thảo về định hướng xây dựng liên kết chuỗi giá trị nông sản – Vai trò của HTX nông nghiệp trong xây dựng chuỗi giá trị nông sản. Tham dự có Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam; đại diện lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Nai; đại diện các Tổng cục, Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ NN&PTNT; Trung tâm Khuyến nông Quốc gia; Cục phát triển HTX (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Liên minh HTX Việt Nam; Đại sứ quán Canada; Lãnh đạo các Sở NN&PTNT, Chi cục Phát triển nông thôn các tỉnh Đông Nam bộ và ĐBSCL; đại diện các xã, huyện nông thôn mới (NTM) thuộc tỉnh Đồng Nai; 20 HTX, CLB và doanh nghiệp…Trong khuôn khổ của hội thảo, đoàn đại biểu đã tham quan mô hình sản xuất của CLB năng suất cao trái cây, tại ấp 2A, xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc; mô hình liên kết sản xuất sầu riêng VietGAP theo chuỗi giá trị tại HTX SXTMDVNN Xuân Định, xã Xuân Định, huyện Xuân Lộc.

đoàn đại biểu đã tham quan mô hình
Đoàn đại biểu đã tham quan và trao đổi tại mô hình liên kết sản xuất sầu riêng VietGAP theo chuỗi giá trị tại HTX SXTMDVNN Xuân Định, xã Xuân Định, huyện Xuân Lộc. Ảnh: Uyên Linh.

 

Uyên Linh

http://nongthonviet.com.vn/thoi-su/kinh-te/201805/htx-nong-nghiep-lai-co-minh-vi-von-724675/

Khởi nghiệp nông nghiệp hữu cơ: Kinh nghiệm từ 2 nhà sáng lập Organica và Vinamit

Người Việt mua sản phẩm bằng mắt và lỗ tai, chứ không mua bằng thương hiệu và niềm tin” – Đó là phác thảo chân dung cơ bản nhất mà ông Nguyễn Lâm Viên – CEO Vinamit dùng để mô tả về số đông khách hàng Việt mua thực phẩm. Tuy nhiên, tệp khách hàng của những doanh nghiệp làm thực phẩm hữu cơ chỉ chiếm 1% trong số đó, ông nói. Đặc tính của tệp khách hàng này là: hiểu biết, coi trọng sức khỏe, cẩn trọng chọn thực phẩm, họ chính là phân khúc khách hàng ngách siêu nhỏ mà doanh nghiệp khởi nghiệp làm về thực phẩm hữu cơ phải tiếp cận bằng được.

Tuy nhiên, cả thương hiệu 30 năm Vinamit của ông Viên hay chuỗi cửa hàng hữu cơ có tiếng Organica của bà Phạm Phương Thảo đều phải thừa nhận, tệp khách hàng sẵn sàng chi tiêu mua hàng hữu cơ chỉ chiếm 1% nhưng không hề dễ dàng để tiếp cận được họ. Vậy Vinamit và cả Organica đã làm bằng cách nào?

Wabisabi – Vẻ đẹp của sự bất toàn

Wabisabi là thuật ngữ đại diện cho thẩm mỹ và thế giới quan của văn hoá Nhật Bản, ý chỉ chấp nhận tính phù du và sự không hoàn hảo hay còn gọi là vẻ đẹp của sự bất toàn. Ông Nguyễn Lâm Viên – CEO Vinamit dùng Wabisabi để mô tả về thực phẩm hữu cơ, đặc biệt là các sản phẩm trái cây hữu cơ mà Vinamit đang làm, vì vỏ và vẻ bề ngoài của trái cây hữu cơ khó mà đẹp được. Bán sản phẩm hữu cơ vì thế là bán sản phẩm thực, chứ không bán vẻ bề ngoài. Khách hàng không hiểu được vẻ đẹp bất toàn này, chính là yếu tố khó đầu tiên của một thương hiệu hữu cơ khi tiếp cận thị trường và đòi hỏi người làm thương hiệu phải làm cho khách hàng hiểu và dần chấp nhận.

Trong số các sản phẩm sấy dẻo, Vinamit có xoài. Ông Viên nhắc lại lần sự cố khiến Vinamit đã phải đóng cửa nhà máy vì phát hiện công nghệ xoài sấy dẻo nhập từ Thái có dùng chất hóa học. Xoài xanh được tẩy rồi định vị màu, sau đó đem sấy, công nghệ này hoàn toàn trái ngược với Vinamit lâu nay khi chuối được thu hoạch lúc chín và đem sấy. Dù làm vậy, chuối sấy để một thời gian sẽ bị đen, không đẹp nhưng lại ngon.

Ông Nguyễn Lâm Viên - CEO Vinamit (phải). Ảnh: The Quốc Khánh Show.
Ông Nguyễn Lâm Viên – CEO Vinamit (phải). Ảnh: The Quốc Khánh Show.

Còn khá non trẻ so với 30 năm tiếp cận thị trường của Vinamit, chuỗi cửa hàng thực phẩm hữu cơ Organica mới tròn 5 năm hoạt động (bắt đầu hoạt động từ 2013). Chị Phạm Phương Thảo – CEO Organica khởi nghiệp cửa hàng đầu tiên khi… đang mang bầu, với tâm lý của một người mẹ tìm đến sản phẩm an toàn tuyệt đối. “Khách hàng Việt thiếu thông tin nhưng lại thừa sự nghi ngờ”, và điều này buộc Thảo phải kiên định và đặc biệt cẩn trọng với cửa hàng hữu cơ của mình để có khách hàng trung thành. Sản phẩm vào chuỗi Organica bắt buộc phải đạt một trong số các tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế. Phân khúc khách hàng của Organica được xác định là: người có thu nhập ở mức khá và quan tâm đến sức khỏe.

Store hay shop in shop?

Sau khi xác định phân khúc khách hàng và cách tiếp cận, bài toán tiếp theo mà doanh nghiệp khởi nghiệp thực phẩm hữu cơ phải tính đến mà mặt bằng – nơi sẽ xuất hiện sản phẩm, với 2 lựa chọn cơ bản là mở cửa hàng riêng (store) hay trưng bày kệ trong các cửa hàng, siêu thị (shop in shop).

Ông Nguyễn Lâm Viên – CEO Vinamit phân tích: Lựa chọn hàng đầu của sản phẩm khởi nghiệp là các chợ phiên nông sản hàng cuối tuần hoặc 2 tuần 1 lần ngay tại TP.HCM, ví dụ như chợ phiên Tử tế, hay Farmer market (quận 7), với giá thuê gian hàng không quá cao, lại thu hút lượng khách hàng nhất định, đây là lựa chọn tốt cho sản phẩm khởi nghiệp có mẫu số chung là nhu cầu tiết kiệm chi phí ở mức thấp.

Chị Phạm Phương Thảo – CEO Organica chia sẻ kinh nghiệm từ những ngày đầu tiên làm cửa hàng Organica trên một con đường lớn ở TPHCM: dù chịu gánh nặng thuê mặt bằng đắt đỏ ngay từ những ngày đầu nhưng bù lại, vị trí đắc địa giúp Organica nhanh chóng được nhiều người dùng để ý. Nếu mở cửa hàng, theo chị Thảo, khó khăn luôn phải đối mặt thường trực là nguồn hàng không có đủ để bán.

Chị Phạm Phương Thảo - CEO Organica (giữa). Ảnh: The Quốc Khánh Show.
Chị Phạm Phương Thảo – CEO Organica (giữa). Ảnh: The Quốc Khánh Show.

Bắt nguồn từ ý tưởng gom hết các sản phẩm hữu cơ có chứng nhận về một cửa hàng nhưng đến nay, Organica vẫn luôn tìm kiếm nguồn hàng liên tục cho chuỗi 5 cửa hàng tại TP HCM, Đà Nẵng và Hà Nội. Khách hàng mỗi ngày ghé cửa hàng đều hỏi: “Rau nay có gì mới?” và nguồn hàng rau hữu cơ không đa dạng khiến các cửa hàng phải đau đầu. Vào năm 2015, sau nhiều nỗ lực tự phát triển và sản xuất, trang trại Organica tại Long Thành, Đồng Nai đã được cấp chứng nhận hữu cơ của Mỹ (USDA) và Liên minh châu Âu (EU), trở thành trang trại rau nhiệt đới hữu cơ đầu tiên ở Việt Nam. Với trang trại này, Organica từ người bán hàng đã trở thành nhà sản xuất và phân phối trực tiếp.

Nói về mô hình shop in shop, Thảo kể về kinh nghiệm hợp tác của Organica và một số chuỗi siêu thị như SATRA hay BIGC, trong đó có mối làm ăn ngắn ngủi với AEON MALL, chuỗi siêu thị Nhật Bản uy tín. Dù xuất hiện trong AEON MALL là cơ hội lớn cho sản phẩm Organica nhưng chỉ sau 1 tháng, Thảo đã quyết định ngừng hợp tác vì sản phẩm của mình được bán cùng với các sản phẩm rau khác chưa đạt chứng nhận.

Khi được đặt câu hỏi: Đối với những doanh nghiệp khởi nghiệp quy mô nhỏ làm hữu cơ thì tiếp cận shop in shop bằng cách nào?, Thảo cho biết hiện nay, nhà cung cấp lớn như Organica vẫn đang thiếu nguồn hàng, nên có thể nói, cơ hội không phải là không có cho các doanh nghiệp khởi nghiệp để xuất hiện trên các kệ bán của cửa hàng lớn.

Còn theo ông Viên, nếu làm tốt, cơ hội là có cho sản phẩm hữu cơ vào hệ thống siêu thị, tuy nhiên, cũng nên nhớ rằng “Siêu thị không cần một nhà cung cấp mới cạnh tranh với với các nhà cung cấp cũ mà họ sẵn có, họ cần hàng tốt hơn, hoặc giá mềm hơn, hoặc sản phẩm mới”. Tất nhiên, bên cạnh truyền cảm hứng về cơ hội đang chờ đón các bạn trẻ muốn khởi nghiệp trong lĩnh vực nông sản hữu cơ, hai nhà sáng lập cũng không quên nhắc nhở: bên cạnh làm thị trường, làm thương hiệu, yếu tố quản trị bao gồm quản trị hệ thống và xây dựng nhân sự bán hàng thấu hiểu sản phẩm hữu cơ là các yếu tố sống còn khi bắt tay kinh doanh nông sản hữu cơ.

Uyên Linh

http://nongthonviet.com.vn/guong-mat/201810/khoi-nghiep-nong-nghiep-huu-co-kinh-nghiem-tu-2-nha-sang-lap-organica-va-vinamit-733849/

Đầu tư nông nghiệp nhiều rào cản

Nông nghiệp được các nhà đầu tư và khởi sự kinh doanh đánh giá là lĩnh vực đầu tư thời thượng và đang là xu hướng. Tuy nhiên, thực sự các doanh nghiệp đang gặt gì khi gieo vốn vào nông nghiệp?

Một cuộc trò chuyện của Nông thôn Việt với hai trong số 800 doanh nghiệp vừa có mặt tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy doanh nghiệp (DN) đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì tại Đà Lạt cuối tháng 7 vừa qua cho thấy: Nông nghiệp vẫn được đánh giá là lĩnh vực đầu tư hấp dẫn, điểm cộng từ sức ủng hộ của Chính phủ càng khiến nông nghiệp thêm sức hút. Tuy nhiên, vẫn không thiếu một số điểm trừ khiến các nhà đầu tư và DN phải dè dặt.

Cơ chế nào cho tài sản đầu tư trên đất nông nghiệp?

Từ cuối năm 2016, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có ý kiến chỉ đạo cần phải có một gói tín dụng dành 100.000 tỷ đồng với cơ chế vay ưu đãi, thuận lợi, thông thoáng nhất để khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển nền Nông nghiệp Công nghệ cao (NNCNC).

Dưa lưới hữu cơ trồng ở Trang trại Việt, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Ảnh: Trang trại Việt
Dưa lưới hữu cơ trồng ở Trang trại Việt, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Ảnh: Trang trại Việt

Ngày 24.4.2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Quyết định số 813 về chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết 30/NQ-CP ngày 07.03.2017 của Chính phủ. Đây là chương trình không có sự hỗ trợ của Nhà nước mà nguồn vốn do các ngân hàng thương mại cân đối từ nguồn vốn huy động trên thị trường.

Theo đó là gói tín dụng 100.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ từ 8 ngân hàng thương mại với lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 0.5%/năm đến 1.5%/năm so với các chương trình cho vay khác.

Tuy nhiên, theo ông Phạm Văn Minh, Tổng Giám đốc Công ty CP NNCNC Đông Á, đơn vị đang phát triển trang trại cây ăn quả với dưa lưới, thanh long, ổi ở huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận: Việc công nhận tài sản đầu tư trên đất nông nghiệp hiện đang là khúc mắc lớn đối với DN, đặc biệt là DN làm NNCNC.

Theo đó, về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản trên đất nông nghiệp, trong đó tài sản hình thành trên đất nông nghiệp của các dự án NNCNC như nhà kính, nhà lưới, nhà xưởng, trang thiết bị phải đầu tư lớn nhưng lại không được chứng nhận là tài sản bảo đảm để vay vốn. Những cuộc gặp con thoi giữa DN và cơ quan có thẩm quyền làm nản lòng doanh nghiệp khi tài sản trên đất nông nghiệp vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Kéo theo đó là khó khăn trong việc làm thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo, thế chấp cho khoản vay tại ngân hàng.

Ông Minh tâm sự: Có một sự bất công cho các DN đầu tư bất động sản thuần và DN đầu tư nông nghiệp khi mà DN đầu tư bất động sản cần đầu tư 10 tỷ, có thể vay 7 tỷ dễ dàng, trong khi đối với DN nông nghiệp, con số này có khi còn chưa đến 1 tỷ.

Tuy nhiên, ngày 20.6 năm nay, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 08/2018/TT-BTP có giá trị từ ngày 4.8.2018, qui định các tài sản bảo đảm được đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp có bao gồm các công trình xây dựng nhà lưới, nhà màng, giếng nước…

Ông Phạm Văn Minh hi vọng: Hiện nay, những văn phòng công chứng thuần chỉ chứng nhận cho những tài sản hiện hữu trên sổ đỏ, nên thông tư mới này có thể là hướng mở cho các DN về tín chấp tài sản hình thành trên đất nông nghiệp.

Gánh nặng chi phí vận chuyển

Một trong số chướng ngại khiến DN phải nhíu mày khi thực sự tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp là gánh nặng về chi phí vận chuyển nông sản, kể cả vận chuyển – logistics trong nước và xuất khẩu. Báo cáo công bố về “Thị trường Logistics Việt Nam 2017” cho biết chi phí logistics trên GDP ở Việt Nam là 20,9%. Cụ thể hơn với ngành rau quả Việt Nam, khảo sát của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết chi phí logistics chiếm đến 29,5%, tức khoảng 1/3 giá trị.

Trong khi đó, tỷ lệ chi phí logistics trên GDP ở Trung Quốc chỉ là 15,4%, Thái Lan thậm chí có 10,7%. Hay ở bình diện rộng hơn, trung bình khu vực châu Á – Thái Bình Dương là 13,5%; châu Âu và Bắc Mỹ là thấp nhất, chỉ có 9,2% và 8,6%, trong khi mức trung bình thế giới là 11,7%. Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam từng đưa ra thống kê, chi phí vận tải, nhiên liệu chiếm 30-35%, phí cầu đường (BOT) chiếm 15% đối với tuyến Bắc – Nam và xấp xỉ 30% với tuyến Hải Phòng – Hà Nội. Bên cạnh đó, có loại phí được xếp là phí “trà nước” chiếm xấp xỉ 5%.

Trang trại trong nhà lưới của HTX Tân Tiến, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: NTV
Trang trại trong nhà lưới của HTX Tân Tiến, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: NTV

Một vướng mắc khác của DN trong lĩnh vực nông nghiệp là sự thiếu hụt thông tin về khả năng cung ứng nông sản trong nước, cụ thể là diện tích, vùng trồng các nông sản ở địa phương. Từ các số liệu này, doanh nghiệp có thể cân đối nguồn cung thị trường. Điều đáng buồn là hiện các sở NN&PTNT từ địa phương đều có báo cáo về thông tin này, nhưng theo một số doanh nghiệp, bản thân các báo cáo này còn có sai lệch về con số thống kê trong cùng một thời điểm gần nhau khiến độ chính xác không còn đáng tin.

Trên thực tế, làn sóng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp tiếp tục duy trì những tín hiệu lạc quan. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết quý II/2018, ước tính cả nước có khoảng hơn 49.600 DN đầu tư vào nông nghiệp, chiếm khoảng 8% tổng số DN đang hoạt động trên cả nước, con số không lớn nhưng có sự chuyển biến so với trước đây.

Ông Nguyễn Công Minh, Giám đốc Công ty CP Đầu tư và phát triển kỹ thuật Nông nghiệp Công nghệ cao, đánh giá: Những công tác cụ thể từ chính sách thực thi sẽ cần một thời gian, nhưng trước mắt, những thông điệp rõ ràng về ủng hộ đầu tư vào nông nghiệp đã tạo guồng chuyển động rất tích cực cho DN.

Tuy nhiên ông cũng nhận thấy: để tránh tình trạng “lờn thuốc” – khi những chủ trương nguội lạnh sau các cuộc hội thảo, guồng quay đầu tư nông nghiệp cần được hâm nóng liên tục từ việc cải cách các chính sách và nâng cao hơn nữa tinh thần hỗ trợ từ Chính phủ đến cơ quan có thẩm quyền cấp cơ sở – nơi giải quyết trực tiếp các thủ tục cho DN.

Uyên Linh

(Bài viết được đăng trên tạp chí Nông Thôn Việt, số ra ngày 5/9/2018 http://nongthonviet.com.vn/nong-nghiep/201809/dau-tu-nong-nghiep-nhieu-rao-can-732204/)

Điếm đến tháng 4: Rực rỡ lễ hội xoài ở Philippines

Nếu đặc biệt yêu thích các lễ hội ẩm thực đặc sắc, bạn nên thử một lần hòa mình vào không khí sôi động của Lễ hội Xoài (The Zambales Mango Festival) được tổ chức tại đô thị Iba, tỉnh Zambales, Philippines và thưởng thức hương vị ngọt ngào từ hàng ngàn trái xoài ở đó.

Ở đất nước Philippines, xoài có xuất xứ từ tỉnh đảo Guimaras khá nổi tiếng. Tuy nhiên, nếu hỏi những người dân nơi đây về xứ sở của trái xoài, chắc chắn tỉnh Zambales sẽ được nhắc đến như là quê hương của những loại xoài thơm ngon nhất Philippines, đặc biệt là loại xoài Dinamulag. Xoài Dinamulag đã được Tổ chức Kỷ lục Guinness Thế giới ghi nhận là loại xoài thơm ngon nhất thế giới vào năm 1995 và được Bộ Nông nghiệp Philippines công nhận là loại xoài ngon nhất nước này vào năm 2013.

Ảnh: itravelbymaplrn.blogspot.com
Ảnh: itravelbymaplrn.blogspot.com

Năm ngoái, Lễ hội Xoài Zambales diễn ra từ ngày 4 – 8 tháng 4, đây cũng là lễ hội lần thứ 18 được tổ chức. Điểm nhấn của lễ hội là cuộc diễu hành đầy màu sắc rực rỡ với những bộ trang phục được trang trí bằng xoài, mang đậm dấu ấn của các dân tộc thuộc đảo quốc Philippines, gọi là Dancing street. Và nhân vật chính, cũng là chủ đề trang trí từ trang phục đến xe diễu hành là những trái xoài của Zambales.

Lễ diễu hành cũng là cuộc thi dành cho các vũ công đến từ các đội nhảy ở Zambales. Năm ngoái, đội chiến thắng cuộc thi giành được giải thưởng trị giá 150.000 peso (tương đương gần 3.000 USD).Lễ hội Xoài ở Zambales, vì thế thường được người dân địa phương và khách du lịch gọi là lễ hội Dinamulag (Dinamulag Festival).

Ảnh: itravelbymaplrn.blogspot.com
Ảnh: itravelbymaplrn.blogspot.com

Trước đây, sinh kế chính của người dân vùng Zambales là đánh bắt cá và sản xuất các sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, sau bước ngoặt được Kỷ lục Guinness Thế giới công nhận, năm 1999, Lễ hội Xoài ở Zambales được tổ chức lần đầu tiên và sau đó trở thành lễ hội thường niên diễn ra vào tháng 4 hằng năm, thu hút rất đông khách du lịch.

Xe trang trí (phao nổi) của vùng San Marcelino đạt giải nhất trong cuộc thi diễu hành năm 2015. Ảnh: albertthebackpacker.com
Xe trang trí (phao nổi) của vùng San Marcelino đạt giải nhất trong cuộc thi diễu hành năm 2015. Ảnh: albertthebackpacker.com

Bên cạnh điệu nhảy và trang phục rực rỡ, lễ diễu hành còn có sự xuất hiện của các xe được trang trí độc đáo như những chiếc thuyền di chuyển trên cạn, gọi là Float (phao nổi). Các phao nổi được trang trí theo đặc trưng của các vùng thuộc Zambales, ví dụ như phao nổi của San Marcelino (đô thị thuộc Zambales) được trang trí đầy củ cải trắng và các giống xoài Ấn Độ, xoài Hawai – đặc sản chủ đạo của vùng.

Ngoài ra, các sản phẩm nông nghiệp khác của vùng San Marcelino như gạo, chuối, cỏ hổ salay, bắp cũng được trang trí trên phao nổi. Bằng cách trang trí này, người dân địa phương quan niệm rằng: các giá trị bản địa, những sản phẩm nông nghiệp đang giúp họ làm giàu và cũng là một phần nguồn gốc của vùng đất quê hương.

Ảnh: itravelbymaplrn.blogspot.com
Ảnh: itravelbymaplrn.blogspot.com

Song song với lễ hội chính, các hoạt động vui chơi giải trí cũng được tổ chức xoay quanh chủ đề “Hương vị xoài ngon nhất thế giới” như: ngày hội triển lãm các sản phẩm địa phương với nhiều hương vị xoài khác nhau đến từ nhiều vùng trồng ở Zambales, cuộc thi ăn xoài…Trong các ngày diễn ra lễ hội, các hoạt động liên quan đến văn hóa lịch sử cũng được tổ chức song song nhằm thu hút khách du lịch như: Ngày hội truyền thống Zambales, Cuộc thi người đẹp Zambales…

Nhờ Lễ hội Xoài Zambales, nhiều loại hình kinh doanh và sản phẩm công nghiệp từ xoài đã được khôi phục và phát triển như: dấm xoài, kẹo xoài, rượu xoài, bánh tart xoài, xoài ngâm…góp phần tăng thu nhập cho người dân trong vùng.

Di chuyển đến Zambales: Từ thủ đô Manila, bạn chỉ cần bắt một chuyến xe buýt đến đô thị Iba, Zambales. Hãng xe được giới thiệu là Sta.Cruz. Hành trình mất khoảng 4 giờ.

Zambales đặc biệt nổi tiếng với những bờ biển đẹp, bạn có thể dành thời gian để khám phá các bãi biển và vịnh, đảo đẹp có tiếng như: vịnh Nagsasa và San Antonio, đảo Capones và Camara…

Vy Thư (Theo philippinestravelhub.com, primer.com.ph)

(Bài viết được đăng trên tạp chí Nông Thôn Việt, số ra ngày 5/4/2018http://nongthonviet.com.vn/kham-pha/nhin-ra-the-gioi/201804/diem-den-thang-4-ruc-ro-le-hoi-xoai-o-philippines-723048/)

Mắc ca: Hành trình nhiều vị đắng

Được trồng khảo nghiệm ở Việt Nam hơn 10 năm, cây mắc ca đã không còn xa lạ với nông dân hay người tiêu dùng Việt. Sản phẩm hạt mắc ca sấy “Made in Vietnam” được thị trường dần quen mặt. Sau gần chục năm, hệ thống phân phối cây giống mắc ca đã hình thành, những vườn mắc ca tiên phong đã cho hơn 5 vụ thu hoạch, các cơ sở chế biến được đầu tư, từ đó chuỗi hàng hóa nông sản mắc ca đã bắt đầu định hình.

Tuy nhiên, đối với người trồng và chế biến, việc gia nhập vào chuỗi nông sản có nhiều dư địa phát triển này vẫn còn không ít băn khoăn.

Một sản phẩm sữa từ hạt mắc ca. Ảnh: Courtesy of Milkadamia.
Một sản phẩm sữa từ hạt mắc ca. Ảnh: Courtesy of Milkadamia.

Khởi đầu gian nan

Mắc ca (Macadamia) được gọi là “Nữ hoàng các loại hạt khô”, tuy nhiên, nếu nhìn lại hành trình của mắc ca ở Việt Nam, nhiều người không ngại đặt tên cho loại cây này là “nữ hoàng thị phi”. Một thời gian, cây mắc ca xuất hiện trên truyền thông với những danh xưng “cây triệu đô”, “cây tỷ phú”. Tưởng rằng với danh xưng đó, cây mắc ca sẽ gặp nhiều thuận lợi.

Nhưng trên thực tế, “lợi bất cập hại” vì đã khiến dư luận từ phát sốt đến đặt nhiều nghi vấn: Liệu đây có phải là cây sinh lời như thế hay không? Nhiều chuyên gia trong ngành cho biết nhận định này bao hàm cả việc chúng ta phải hoàn thiện chuỗi sản xuất từ trồng đến chế biến, xuất khẩu, chứ không phải chỉ từ đơn thuần từ giá trị của hạt mắc ca.

Theo Hiệp hội Mắc ca Việt Nam, nếu dựa trên sự phát triển của công nghệ và cơ sở hạ tầng về chế biến cây ăn trái ở Việt Nam, mắc ca nói riêng và các loại hạt vỏ cứng nói chung là lựa chọn phù hợp vì không yêu cầu trình độ sơ chế biến, vận chuyển hay bảo quản cầu kỳ. Đây cũng là câu trả lời cho hoài nghi: Vì sao mắc ca, Úc, Thái không mở rộng diện tích, còn Việt Nam hăm hở? Hiệp hội Mắc ca Việt Nam cho biết họ cũng đã đau đáu với câu hỏi này.

Câu trả lời lại thật đơn giản: Với sự phát triển hiện đại về hệ thống kho bảo quản, vận chuyển nông sản của Úc, họ không tăng diện tích trồng mắc ca là hợp lý khi còn nhiều loại cây ăn trái khác tuy đòi hỏi yêu cầu sơ chế biến khắt khe nhưng đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Thái Lan cũng trong tình trạng tương tự.

Tuy nhiên, với thực tế cơ sở hạ tầng cho nông sản sau thu hoạch tại Việt Nam, mắc ca lại phù hợp. Chưa kể các diện tích đất bỏ hoang hay đang canh tác không hiệu quả ở vùng Tây Bắc, theo phân tích của Hiệp hội Mắc ca Việt Nam, với kỹ thuật canh tác và không yêu cầu  cao  về  nước  tưới,  mắc  ca  là cây trồng phù hợp để xóa đói giảm nghèo.

Chúng tôi cũng đã “mục sở thị” từ tham quan các nhà vườn trồng mắc ca ở vùng Tây Nguyên. So với các loại cây trồng đã quen thuộc như cà phê, công chăm và tưới mắc ca “nhàn” hơn hẳn. Ông Ngô Quang Phương, chủ vườn mắc ca 1ha ở Cư Bao, Đắk Lắk, còn khẳng định: “Mắc ca là cây dành cho người lười”.

Ông Nguyễn Văn Cúc (thôn Lộc  Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk), một trong những nông dân đầu tiên ở Tây Nguyên trồng mắc ca, cho biết: So với các cây khác trong vườn, công chăm mắc ca đơn giản nhất nhưng lại hiệu quả nhất: một năm làm cỏ 2 lần, tỉa cành, bón phân trung bình 2 – 3 kg phân NPK/năm. Hiện ông Cúc đang trồng 1.000 cây mắc ca xen canh trong vườn cà phê, sầu riêng, tiêu, bơ, trong đó có 400 cây mắc ca cho thu hoạch quả ổn định, thu về 400 triệu đồng/năm.

Ông Đinh Minh Đại với 1,4 ha (420 cây mắc ca, trong đó có 320 cây mắc ca đang thu hoạch) ở thôn Giang Minh, xã Ea Puk, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk cũng cho hay: Dù trồng sau nhưng hiện nay, thu nhập từ cây mắc ca trong vườn đã vượt hẳn cà phê. So với các cây khác, mắc ca có năng suất cao hơn, nhu cầu bón phân rất ít, chỉ cần bón phân chuồng, không cần phân hóa học nhiều, giúp tiết kiệm chi phí. Cây sinh trưởng tốt, tỷ lệ cây chết rất thấp, trồng 100 cây chỉ chết 1 – 2 cây, có thể không chết cây nào, khác với tiêu, có thể chết cả vườn.

Hiện nay, tại vườn của ông Đại, bước vào năm thứ 7, một cây mắc ca sai trái có thể cho từ 40 – 50 kg trái tươi (còn vỏ xanh), các cây thường cho 35 – 40 kg trái. Sản lượng trái thu được tăng qua các năm. Năm đầu chỉ thu được 4 tạ, đến năm thứ 2 đã thu được 1,5 tấn trái mắc ca. Tổng vườn thu hoạch được 5 tấn hạt (hạt khô đã tách vỏ xanh) năm ngoái, năm nay dự kiến thu khoảng 7.5 tấn.

Hành trình… cũng gian nan

Câu chuyện thành công từ vườn ông Nguyễn Văn Cúc, ông Đinh Minh Đại và nhiều người khác, tiếc thay, không phải là câu chuyện chung của tất cả những nông dân đã ôm mộng với mắc ca. Từ năm 2015 đến nay, thông tin những vườn mắc ca “chỉ tốt lá chứ không tốt quả”, “trồng 4 – 5 năm mà vẫn không ra trái” làm cơn sốt mắc ca chững lại.

Không quá ngạc nhiên trước thông tin này, ông Nguyễn Văn Cúc, người có vườn trồng mắc ca đầu tiên tại miền Nam khi được Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng (nay là Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) chọn trồng khảo nghiệm 29 dòng cây mắc ca vùng Tây Nguyên, với diện tích 1ha xen với cây cà phê vối vào năm 2004 kể chúng nghe một câu chuyện cũ: “Ở vườn tôi cũng có những cây năm thứ 7 – 8 vẫn không có quả. Thời vườn khảo nghiệm được đầu tư cây giống, mỗi cây lúc đó (năm 2004) được tính giá là 70 đô la, nhập nguyên dòng từ Úc về. Lúc tôi ghé thăm Viện Eakmat (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên – WASI), ở ngoài cổng, người ta bán dạo chỉ 150.000 đồng/cây. Đấy chính là cây giống tôi mua về trồng thử và 7 năm sau vẫn không ra trái”.

Cũng theo ông Cúc: năng suất thu hoạch mắc ca phụ thuộc lớn về giống. Với diện tích khảo nghiệm 29 dòng ban đầu ở vườn ông Cúc, giống còn rất lung tung, hiệu suất không cao. Sau này, khi ông tiếp tục mở rộng diện tích trồng mắc ca qua các năm với các giống chọn lọc thì thấy rõ: cây mắc ca càng già thì cho năng suất càng cao, trong vườn có cây thậm chí còn đạt đến 70kg trái/cây.

Điều đó cho thấy vấn đề giống là vô cùng quan trọng với việc phát triển cây mắc ca. Theo Hiệp hội Mắc ca Việt Nam, trên thị trường đang có 2 loại giống mắc ca là giống ghép và giống thực sinh (chỉ ươm hạt, không ghép), nhưng chỉ có giống ghép mới mang lại sản lượng cao, ổn định. Điều đáng lo ngại là số địa chỉ bán được giống chuẩn hiện không nhiều. Người dân cũng chưa đủ kiến thức để chọn cho mình nơi cung cấp giống đạt chất lượng, đó là chưa kể giống tốt, đạt chuẩn thường giá cao cũng là một trở ngại.

Không chỉ gặp vấn đề về giống, mắc ca dù được tiếng dễ chăm sóc nhưng cũng không thể bỏ bê hoàn toàn. Ông Huỳnh Ngọc Huy, Tổng Thư ký Hiệp hội Mắc ca Việt Nam chia sẻ một số chuyện bên lề dở khóc ở cười. Thời điểm người dân đổ xô trồng mắc ca nhưng không ra trái.Hiệp hội Mắc ca Việt Nam đã tìm hiểu và thấy một trong những nguyên nhân là do người dân chưa chăm sóc tốt cho cây mắc ca. Vì vậy, Hiệp hội đã phối hợp với Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt triển khai gói tín dụng cấp vốn cho hộ nông dân trồng mắc ca bằng… phân bón. “Chúng tôi mang phân bón đến tận vườn, nhưng tréo ngoe là rất ít nông dân đồng ý, vì nhiều người cho rằng mắc ca không cần phân nên họ muốn lấy tiền để làm việc khác”.

Chờ đợi cơ chế

Chuỗi giá trị của cây mắc ca bao gồm 4 giai đoạn chính: nghiên cứu, trồng/sản xuất, chế biến và thương mại. Nhìn chung, theo đánh giá, việc trồng cây mắc ca tại Việt Nam vẫn phải phụ thuộc khá nhiều vào nguồn giống nhập khẩu từ nước ngoài (Úc, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Thái Lan). Một vài năm trở lại đây, cây mắc ca tại Việt Nam đã bắt đầu vào giai đoạn cho thu hoạch nên trái đã được sử dụng để làm giống. Tuy nhiên cành ghép vẫn phải từ nguồn cây đầu dòng nhập, mà số lượng cây này không nhiều.

Hiện tại, cây mắc ca được trồng ở quy mô nhỏ, chủ yếu là xen canh với các loài cây công nghiệp như cà phê, điều, ca cao, hồ tiêu và một số cây ăn quả. Tỷ lệ trồng mắc ca là chưa lớn so với diện tích vườn (bình quân 0.5 – 2 ha, chiếm khoảng 20% – 30% diện tích đất cây lâu năm hiện có). Tình hình này dẫn đến một khó khăn khác trong hoạt động chế biến. Hiện chưa có nhiều nhà máy chế biến công nghệ cao tại Tây Nguyên, mới chỉ có 2 nhà máy chế biến được đưa vào hoạt động khoảng 2 năm và 1 nhà máy đang được xây dựng. Nhưng các cơ sở này luôn “khát” nguyên liệu.

Công ty TNHH Việt Xanh Maca đầu tư nhà máy chế biến mắc ca tại 41 Trần Thủ Độ, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng gồm hệ thống đồng bộ từ máy cắt vỏ, máy sấy, đóng gói, hệ thống kho lạnh. Công ty liên kết hỗ trợ canh tác và bao tiêu sản phẩm với khoảng 500 hộ dân ở Lâm Đồng, ngoài ra còn thu mua mắc ca ở các tỉnh khác của Tây Nguyên.

Khâu tách vỏ tại cơ sở chế biến mắc ca Việt Xanh Maca. Ảnh: NTV
Khâu tách vỏ tại cơ sở chế biến mắc ca Việt Xanh Maca. Ảnh: NTV

Anh Đỗ Đình Dũng, Giám đốc Việt Xanh Maca cho biết: Trung bình nhà máy sản xuất 1 tấn thành phẩm mỗi ngày, công suất trung bình năm có thể đạt đến 300 tấn. Thực tế, công suất trung bình năm chỉ đạt 100 tấn do nguồn cung nguyên liệu hạt mắc ca không đủ. Nghịch lý là ở đâu thì người dân được khuyên trồng cũng hỏi: “Bán cho ai?” Việt Xanh Maca cho biết họ đang chuẩn bị đầu tư cho nhà máy mới với công suất đạt 2.000 tấn/năm, được đầu tư cao hơn nữa về dây chuyền chế biến vì theo dự tính, trong thời gian tới, số diện tích vườn mắc ca đến thời điểm thu hoạch sẽ bắt đầu tăng lên.

Đến năm 2018, đã có 10.000ha trồng mắc ca. Theo Giáo sư Hoàng Hòe, nguyên Viện trưởng Viện Điều tra quy hoạch rừng, hiện tại, Bộ NN&PTNT không quản lý trực tiếp việc quy hoạch mà các địa phương tự căn cứ theo tình hình thực tế và nhu cầu thị trường để xác định. Trong đó, tỉnh Lâm Đồng quy hoạch hơn 20.000 ha, tỉnh Điện Biên trên 13.000 ha. Các tỉnh khác như Lai Châu, Sơn La, Đăk Lăk, Đăk Nông…vv cũng đang quy hoạch. Cả nước có thể trồng khoảng 30 triệu cây, trên 100.000 ha trồng thuần và trồng xen.

Theo GS Hoàng Hòe, đã đến lúc Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ lãi suất cho người nông dân trồng mắc ca. Hiện nay, riêng Hiệp hội Mắc ca Việt Nam đang cam kết tiêu thụ toàn bộ sản phẩm cho nông dân với giá mua tối thiểu bằng 85% so với giá bên Úc. Tuy nhiên, không có hộ nông dân nào cần bán cho Hiệp hội cả vì các doanh nghiệp và cơ sở chế biến tăng cường thu mua và mắc ca đang hiếm hàng.

Hiện nay trên thị trường thế giới, lượng cung mắc ca vẫn chưa đáp ứng đủ lượng cầu. Trên thế giới, hạt mắc ca nguyên vỏ cứng, đã được sấy khô dưới 10% độ ẩm (gọi là NIS-nut in shell) được coi là sản phẩm đầu ra của nông trại và mua bán hết sức sôi động trên thị trường. Tổng lượng giao dịch NIS của vụ mùa năm 2013 – 2014 là khoảng 145.000 tấn (theo INC International). Chưa kể thị trường mắc ca cũng như các loại quả khác (điều, óc chó, dẻ, hạnh nhân…) đang mở rộng nhanh chóng vì xu hướng tiêu dùng các thực phẩm sạch, có lợi cho sức khỏe trong chế độ dinh dưỡng.

Uyên Linh

(Bài viết được đăng trên tạp chí Nông Thôn Việt, số ra ngày 5/8/2018 http://nongthonviet.com.vn/nong-san-viet/201808/mac-ca-hanh-trinh-nhieu-vi-dang-730268/)